Chu
Kỳ Nhất Bổn tán vạn thù < = > Vạn Thù qui Nhất Bổn
và
Sự
phổ truyền Ðạo pháp của Ðức Thượng Ðế trong kỳ Phổ
Ðộ lần thứ Ba
Ðức Thượng Ðế hay Ðức Chí Tôn hay Ðấng Cha Trời, Cha Chung Nhân Loại hay Ðức Chúa Cha là Ðấng Sáng Tạo ra Vũ Trụ. Ví là Ðấng Cha Trời nên đức háo sanh của Ngài đối với chúng sanh vạn vật nói chung hay nhân loại nói riêng, là một loài tiến hóa cao nhất trong bát hồn ( Kim-Thạch, Thảo Mộc, Thú Cầm, Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật ) . Ngài là Ðại Linh Quang nên ánh sáng, sự sống, quyền năng và lòng bác ái vô biên của Ngài bao trùm cả Vũ Trụ. Ngài chiết thân hay Ngài phân Ðại Linh Quang của Ngài thành những Tiểu Linh Quang ra thành những loài vô tri như Kim Thạch hay các Tinh Cầu như ba báu Nhật, Nguyệt, Tinh.Ðây là thời kỳ "Tiên Thiên Sáng Thế" theo sơ đồ Tiên Thiên Bát Quái mà Vua Phục Hi đã tìm thấy do một vị nào đó vẽ ra trên lưng con rùa

mà sách vở không có ghi danh tánh. Loài
Kim Thạch tiến hóa nhờ tác động của Lý và Khí (Lý hay
Các định luật như Nhân quả (động và phản động, đồng
thanh tương ứng, luật cân bằng, nguyên lý bảo toàn năng
lương = các chất biến trạng thái như nước, hơi nước,
mây, mưa, nước đá và trở lại nước trọng lượng và thể
tích bằng lúc đầu tiên, điều mà Ðức Chúa Giê-su dạy
về luật nhân quả và luân hồi trong Sách Thánh Gioan - Kinh
Thánh Thiên Chúa giáo rồi mà không ai hiểu nổi – (Xin quý
vị xem bài „Tại sao Ðức Chúa Giê-su không dạy rõ luật
Luân Hồi như Ðức Phật đã dạy“) – Loài Kim Thạch tiến
hóa thành loài thảo mộc nhờ tác dụng của Ngũ Hành là Kim,
Mộc, Thủy Hoả, Thổ hay bốn trạng thái hay Tứ Ðại : Ðất
= thể rắn với nguyên tử C,H,O,N ; Nước hay thể lỏng với
2 loại nguyên tử H và O (H²O) ; Gió hay chấ
t Khí với nhiề u loại
nguyên tử khác nhau và Lửa hay năng lực biến hóa giống như
lò nguyên tử (Loài người chỉ mới có lò nguyên tử biến
chấ t Uranium ra Plutonium
và sau cùng thành chấ t
Chì, nhưng lò nguyên tử giữa ruột trái đất, ngôi sao, mặt
trời, Galaxie…là lò nguyên tử biến các nguyên tử thành
nguyên tử khác mà Lý là
Nguyên Lý Âm Dương hiện nay Khoa Information Science đã chứng
minh được nguyên lý tạo lập Vũ Trụ hai vị Vua Trung Hoa
: Phục Hi và Văn Vương đã tìm thấy sơ đồ Tiên Thiên và
Hậu Thiên Bát Quái. Trong các Sơ đồ nầy cũng như trong Ðại
Thừa Chơn Giáo bắt đầu năm 1936 Ðức CHÍ TÔN Cao Ðài Thượng
Ðế đã giáng cơ dạy rõ hơn cho chư vị tu theo Phái Chiếu
Minh Tam Thanh Vô Vi hiểu rõ Ðại Thiên Thế giới và Tiểu
Thiên Ðịa để hành pháp cho đúng. Loài thảo mộc tiến
hóa thành Thú Cầm và Thú Cầm tiến hóa lên thành Người.
Loài người là loài thông minh nhất trong các loài, nhưng trong
giai đoạn sơ khai loài người phải học đủ thứ từ điều
thiện đến điều ác như hai người đầu tiên trên trái đất
mà Tiên Tri Mô-se đã diễn tả. Muốn biết điều thiện và
điếu ác như Ðức Chúa Trời thì hai người phải chấp nhận
ra khỏi vườn Ðịa Ðàng ( chớ không bị Chúa phạt vì không
nghe lời Chúa ăn trái cấm như Ông Mô-se viết. Ðại ý như
sau: Người cha trong gia đình là Tiến sĩ giàu có. Hai con sống
trong cảnh giàu sang, có đủ mọi thứ nên chỉ lo ăn chơi
và lười biếng học. Ông cha Tiến sĩ phải bắt hai đứa
rời khỏi nhà đi học ở trường đời thiếu thốn mọi thứ,
phải tự lo liệu nơi ăn, chốn ở, vật thực, quần áo,
thuốc men, sách vở... Người cha có tiền nhưng không tiếp
tế vì nếu cứ cung cấp mãi thì hai con không siêng năng tự
học và không trở thành Tiến sĩ như cha được. Trái cấm
có nghĩa là thức ăn tinh thần, con rắn hay Satăn là sự kích
thích về óc tò mò, có tò mò mới nếm thử hay thí nghiệm,
kiểm chứng và tìm ra định luật theo tinh thần khoa học ngày
nay). Nhờ học hỏi trong thiên nhiên mà loài người có sự
tự do đầu tiên và cuối cùng hay cá tính tự lập tự quyết
định do ý chí cá nhân. Sự tự do mà Ðức Chúa Trời hay
Ðức Chí Tôn đã ban thì Ngài không xen vào chuyện riêng của
con người. Ngài không bồng ẵm con cái Ngài về cùng Ngài
khi nó quên nguồn cội, quên cha mẹ nó mà chỉ Ngài gởi những
ông thầy đến dạy nó mà thôi: Ðó nhà chư Tiên Tri, chư
Giáo Tổ, chư Nguyên Căn xuống thế dạy đời. Mỗi con người
tự quyết định sự thăng hoa tiến hóa, thoái hóa hay đứng
yên một chỗ hay đi vòng vòng mãi (luân hồi) của mình. Nhờ
tự quyết định cuộc thăng hoa của mình mà một số chơn
linh bắt đấu từ loài người tiến lên hàng Thần, Thánh,
Tiên, Phật. Chư Tiên Phật đã thoát vòng luân hồi có nhiệm
vụ do Ðức Chí Tôn giao phó xuống trần hay tình nguyện giáng
thế tiếp tay với Ðức Thượng Ðế giáo hóa nhân loại và
thúc giục loài người tiến hóa nhanh cho kịp chu kỳ khảo
thí mà lên những nấc thanh cao hơn trên đường tiến hóa
phản bổn hòan nguyên hay con đường trở về quê hương cũ,
nơi xuất phát là Ngôi Thái Cực hay Ðại Linh Quang. Lúc ra
đi thì nhỏ bé mà lúc trở về thì to lớn như chính vừng
Ðại Linh Quang hay Con hiệp nhứt cùng Cha, ở trong Cha, hay Thiên
Nhơn hiệp nhứt mà Ðức Thượng Ðế Cao Ðài đã nói: „THẦY
là các con, các con là THẦY“. (Một thí dụ cụ thể:
Khi mồi lửa từ đống lửa to để đốt một ngọn đuốc
cầm đi trong bóng tối. Ngọn đuốc cháy vừa đủ sáng để
tìm đường đi tới nơi nào đó. Muốn cây đuốc cháy tiếp
người cầm đuốc phài kiếm lá khô hay vật chi ở dọc đường
bó lại thành cây đuốc to hơn để cháy tiếp. Khi nghỉ ngơi
hay đóng trại dọc đường, hành giả phải cần hơi ấm nên
phải gom cây khô chung quanh đốt lửa trại để nắm nghỉ,
ngủ rồi đi tiếp. Muốn có đống lửa to như lúc mới mồi
thì người ta phải tìm thêm cây khô châm vào, càng nhiều
thì đống lửa càng cháy lớn ra và khi đủ chất cháy thì
ngọn lửa nầy sẽ bằng ngọn lửa lúc mới ra đi tức Tiểu
linh quang khi học hỏi đầy đủ thì con người có sự minh
triết bằng với Cha Trời hay Tiểu hồn nhập cùng Ðại Hồn
hay Linh Quang).
Từ tỉ
tỉ năm qua những chiết hồn của Ðức Cha Trời đi xuống
các cõi nặng nề trong bảy cõi để học hỏi kinh nghiệm
hầu tiến hóa và thăng hoa. Hiện nay nhân loại đang sống
ở quả cầu thứ 68.
Linh hồn phải tiến hóa và thăng hoa
từ quả cầu thứ 72 lên quả cầu 71, 70...cho đến Ðệ nhứt
cầu. Hết Ðệ nhứt cầu phải qua Tam Thiên Thế giới. Qua
khỏi Tam Thiên Thế giới thì mới đến Tứ Ðại Bộ Châu;
qua Tứ Ðại Bộ Châu mới vài đặng Tam Thập Lục Thiên;
vào Tam Thập Lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa,
mới đặng Bạch Ngọc Kinh, là nơi Ðạo Phật gọi là Niết
bàn đó vậy" (TNHT, TTTN, 1972, trang 60).
Thời kỳ
nầy là kỳ Ân Xá lần thứ Ba nên Ðức Thượng Ðế cho thả
các linh hồn tội lỗi Âm quang nặng nề mà chưa đến nổi
bị tiêu diệt vì quá nhiều Âm quang như những chánh trị
gia tội phạm của chiến tranh đã giết hằng chục ngàn hay
triệu người trong thời gian qua và ai còn nhẹ thì được
đầu thai trở lên sống chung lộn với người hiền và chư
Thần, Thánh, Tiên giáng trần độ đời để lập công quả
tham dự kỳ thi cuối gọi là Long Hoa Ðại Hội. Từ cõi âm
u mà các Tôn giáo gọi là Ðịa ngục hay Hoả ngục hay Thập
Ðiện Diêm Vương hay Lò Luyện ngục các linh hồn tuy có ăn
năn nhưng bản tính cũ mang thú tánh vẫn còn nên có những
tín ngưỡng gần với quỉ ma hay cuồng tín mà nhân loại đang
gặp phải những vụ tàn sát khủng khiếp phát xuất từ Trung
Ðông và Phi Châu, nơi những linh hồn kém tiến hóa đầu
thai đáng lẽ trả nợ tiền khiên mà ngược lại gây thêm
nợ máu trong những vụ khủng bố. Họ mù quáng tin rằng họ
làm việc giết người cho Ðấng mà họ tin và về cùng Ngài,
nhưng họ đâu biết là về cõi Âm Quang mà khi chết họ mới
biết. Cõi trần nầy là Trường học hỏi, trường thi công
quả mà cũng là hiện trường của Nhân Quả khảo đảo trong
cuộc sàng sảy, lừa lọc, chọn lựa người hiền, kẻ dữ
mà được sinh tồn hay bị huỷ diệt do những cuộc tàn sát
hay thiên tai hay những tai nạn khủng khiếp xảy ra khi những
nạn nhân có cùng cộng nghiệp sẽ cùng nhau trong chuyến tàu
(như Titanic) hay chuyến bay hay trong tòa nhà bị cháy như ở
New York, Moskau, Narobi, Pali... Cũng có những người chỉ
tin vào thuyết tiến hóa của nhà bác học Darwin
Vượn người tiến hióa thành người theo Darwin-Entwicklungstheorie
mà không hiểu luật tiến hóa theo Thiên cơ hay theo giáo lý của Ðức Cao Ðài Thượng Ðế đã dạy trong Ðại Thừa Chơn giáo,
Hình vẽ Cơ Tiến Hóa trong quyển Ðại Thừa Chơn Giáo
nên họ trở thành những người vô thần và họ cũng là những người cuồng tín như Giáo Hội của những người lấy khoa học làm Tôn giáo, lấy hình ảnh của nhà bác học Albert Einstein làm tượng trưng cho sự minh triết của khoa học ( Die Kirche Scientologie) và cũng có người theo thuyết duy vật và tạo thành nhóm nhỏ (Partei) để trị dân bằng quyền lực chớ không bằng dân chủ pháp trị nên họ cấm những ai tin vào Tôn giáo, không cho tự do tín ngưỡng mà cho tự do không tin vào tôn giáo nào, bắt bớ những người theo phương pháp luyện nội công hay tinh thần hay bắt những người muốn tự do Tôn giáo.
Qua hai kỳ
Phổ Ðộ trước nhân loại cũng đã trải qua những Thế chiến
khủng khiếp và ngày nay tuy Ðại chiến thứ Ba chưa xảy ra,
nhưng như đã gần kề khi loài người quyết tâm tiêu diệt
kẻ ác và kẻ ác quyết tâm tiêu diệt những người không
có cùng sự cuồng tín như họ hay tin vào Tôn giáo khác
với tín ngưỡng của họ ( như vùng Trung Ðông)
. Mỗi thời kỳ đều có chư Tiên, Thánh, Phật giáng trần
để dạy cho loài người hiền lương sống đời đạo đức,
nhưng người hiền vẫn chung sống với người dữ nên mới
xảy ra như lịch sử nhân loại đã ghi.
Trong thời
kỳ Phổ Ðộ lần thứ Ba nầy không có vị Giáo Tổ mang xác
phàm là con người bình thường hay như một Minh Vương ( như
vua Nghiêu và Thuấn thuở xưa)
, vì Ðức Chí Tôn đã tự mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
và vì Ngài vô hình vô tướng và Ngài mượn chư Tiền Khai
tổ chức phần hữu hình và Ngài mượn xác phàm như người
bình thường để Ngài dạy Pháp và truyền pháp, nên động
từ „dạy pháp“ chỉ có Ðức Cao Ðài Tiên Ông hay Ông THẦY
TRỜI mới được dùng, còn những người chỉ cách luyện
Ðạo cho người khác gọi là "người chỉ kiểu“ mà thôi.
Không ai là người phàm trần được xưng là Meditationsmeister
hay Ðại Sư như trong thời gian đã qua, nghĩa là trước năm
mà Ðức Ngô Minh Chiêu được Ðức Cao Ðài Tiên Ông truyền
bửu pháp Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.
Ðức Ngô Minh Chiêu
Vào Nhất
Kỳ Phổ Ðộ thì Ðức Chí Tôn cho chư Phật giáng phàm để
dạy cho nhân loại ở Ấn Ðộ h ọc cựu
pháp là Yoga hay là bửu pháp để hợp nhứt với Ngài. Bửu
pháp Yoga có 7 pháp hành khác nhau tùy theo khuynh hướng, trình
độ, sở thích, ý chí hay ý muốn của hành giả hành cho thích
hợp theo Cung của mình thí dụ như Hatha Yoga là phương pháp
rèn luyện xác thân hữu hình giống như phương pháp thể dục
làm cho một tinh thần trở nên minh mẫn khi xác thân khoẻ
mạnh và thanh nhẹ; Bửu pháp Raja Yoga là phương pháp tập
trung tinh thần, luyện tập ý chí, tập trung tư tưởng và
điều thân, điều khí và điều thần kích thích các luân
xa và trung tâm sinh lực ở dưới xương phát khởi lên khu
lên các luân xa bên trên; Các bửu pháp khác như luyện ý chí,
chú ý vào đức tin như Bakti-Yoga vv...mà các Tôn giáo cần
có đức tin mới hành được vv. Vì nhân loại từ xưa ít
có người tiếp nối hành rốt ráo vì điều kiện khó khăn,
kỷ luật gò bó và chư thiền sư khó chọn được chư vị
tiếp nối nên chư vị sau không hành đầy đủ những bộ
cử động của nguyên pháp nên cựu pháp bị thất truyền.
Thí dụ bên Ấn Ðộ có những thiền viện mà chư thiền sư
đã già, khi có đệ tử đến xin thọ giáo thì chư thiền
sư chọn học trò như thử về tánh tình như có nóng nảy
không, có kiên nhẫn không, tánh tốt cỏ đủ để thọ pháp
không... bằng cách cho quét nhà, bửa củi hay làm việc gì
đó trong thời gian lâu mà không dạy ngay. Ða số chán nãn
bỏ thiền viện ra về vì thiếu kiên nhẫn và rất ít người
được thọ pháp, khi vị thiền sư chết đi thì bửu pháp
đầu tiên bị mất một phần chỉ có vài vị tho được pháp
nhưng không đủ 100% được truyền dạy. Qua hàng bao nhiêu
thế kỷ cựu pháp bị thất truyền lần lần đến khi pháp
chỉ còn là cách thiền cho người sơ cơ hay người mới bắt
đầu thôi. Cựu phám có 3 cấp như Hạ Thừa, trung Thừa và
Thượng hay Ðại Thừa và mỗi cấp lại có bậc Tiểu, Trung
và Ðại nên nói chung gồm 9 bực khác nhau và khi thành công
hay đắc Ðạo cũng đạt một trong Cửu phẩm khác nhau để
thăng hoa lần lần.
Ðến Nhị
Kỳ Phổ Ðộ ở Thời Trung Cổ Ngài Thái Tử Sĩ-đạt-ta từ
bỏ ngai vàng đi lặn lội khắp nơi để tìm pháp học thì
được các tăng sĩ Bà-la-môn dạy cựu pháp mỗi nơi mỗi
khác, thiếu một pháp diệu dụng của chánh pháp thuở xưa,
nên ngài học nhiều vị mà ngài không vừa ý pháp nào. Cuối
cùng ngài phải ngồi lì dưới cội bồ đề để tự tìm
ra cái pháp cho ngài để ngài tự luyện nhị xác thân vì có
nhị xác thân thì khi chết mới có phương tiện như thuyền
Bác Nhã lên cõi thanh nhẹ là Niết bàn mới được. Kiếp
sau cùng ngài là Thái tử, nhưng rất nhiều kiếp ngài đã
tu rồi, đã hy sinh để tiến hóa, thăng hoa như trong Kinh Phật
do chư đệ tử viết lại ngài có kể là ngài đã có lần
hy sinh thân xác mình cho sinh linh khác. Kiếp chót nầy ngài
mới đắc quả Phật và từ trên 2543 năm nay duy có ngài thành
chánh quả Phật, còn chư vị tiếp nối thì kinh sách không
có nói đến, hoặc chỉ nói đến Bồ tát là cao. Từ khi ngài
truyền tâm ấn cho chư đệ tử mà ít có vị hiểu nổi khi
ngài giơ hoa sen lên có ý hỏi ý nghĩa của hoa sen, duy có ông
Ca-Diếp hiểu được mà thôi. Ðó là tượng trưng cho Ðạo
Phật thì lấy hoa sen vẽ ra để người tu thiền biết đó
là sự khử trược lưu thanh. Sự truyền dạy Ðạo pháp hay
triết lý của ngài so sánh như nắm lá cây trong bàn tay ngài,
còn sự hiểu biết của ngài về Càn Khôn Vũ Trụ như lá
cây trong rừng, do đó qua thời gian bị thất truyền thì chánh
pháp lại còn ít hơn nữa. Hoa sen trong vũng bùn sình dơ mà
khi vươn lên khỏi mặt nước lá trong sạch hơn, khi nở hoa
thì hoa thơm ngào ngạt nhẹ nhàng không còn mang cái trược
bên dưới nữa. Vì ít đệ tử có khả năng ngộ tâm pháp
nên bửu pháp thiền của ngài cũng lại bị thất truyền như
thời Nhứt Kỳ Phổ Ðộ qua các pháp Yoga lần nữa.
Do cuộc
tuần hòan và đến cuối chu kỳ tiế hóa vào thời Mạt pháp
hiện nay, máy Tạo vận chuyển và vì đức háo sanh của Ðức
Chí Tôn Thượng Ðế nên ngài mới chính mình mượn huyền
diệu cơ bút làm phương tiện thông linh truyền dạy chánh
lý qua Thánh giáo, đồng thời ngài mượn chư Tiền Khai là
chư vị mang xác phàm để mở Ðạo theo hữu hình như Tòa
Thánh, Tổ chức nền Ðạo dưới trần. Ngài cũng mượn xác
phàm của ngài Ngô Văn Chiêu là Ðốc Phủ Sứ lúc ấy đang
làm Chủ Quận Dương Ðông trên Ðảo Phú Quốc để ngài dạy
bửu pháp. Ðốc Phủ Chiêu sống như người bình thường,
có vợ con, đi làm việc trả nợ đời, nợ vợ, nợ con, nợ
xã hội và nợ tiền khiên bằng cách công quả giúp đời
và dành tứ thời công phu thiền định hay lyuện Ðạo để
tạo nhị xác thân và đắc quả Ðại Tiên hay đắc Phật
vị tại thế. Khi đọc Tiểu sử Ðức Ngô Minh Chiêu thì người
ta thấy ngài đã có học bửu pháp với một vị mà người
ta không biết là vị nào đến dạy pháp cho ngài nên người
ta hiểu ngầm là một vị Tiên cũng mượn xác phàm do sứ
mạng chỉ pháp từ Ðức Cao Ðài. Ðức Chúa Giê-su khi xưa
cũng phải học thiền như thế: Theo một nhà nghiên cứu
Tôn giáo là ông Holger Kersten ở Freiburg Tây Ðức, là một
giáo sư Tôn giáo học bị sa thải vì ông đã viết cuốn Jesus
lebte in Indien (Chúa Giê-su đã từng sống ở Indien) dịch ra
nhiều thứ tiếng, chứng minh bằng tài liệu khảo cổ, hình
ảnh... thì Ðức Chúa Giê-su đã qua Khasmir Bắc Ấn Ðộ học
thiền trong thiền viện, trở về Do Thái lên núi ở Sinai ngòi
thiền 40 ngày không ăn uống mà chỉ uống nuớc, lúc bấy
giờ ngài được 31 tuổi, đã thông linh cùng Ðức Chúa Cha
nên ngài đi giảng Ðạo. Kinh Thánh do các Tông đồ viết và
không có kể tiểu sử của ngài trước năm 31 tuổi. Vì người
ta sợ sự thật nên mới ra nông nổi.
Một cuốn sách của tác giả người
Ðức là Tiến sĩ đã viết Chúa Giê-su là một người Ðạo
Phật như theo hình chụp trong trang sách bằng tiếng Ðức với
lời nói của hai vị Giáo Tổ giống nhau như sau:


Tóm lại, vị nào dù cho là Ðại La Thiên
Ðế xuống trần mà không tu luyện thì khó mong trở về cõi
trên được.
Trong Tam Kỳ Phổ Ðộ Ðức Cao Ðài,
Ðức Phật Mẫu, chư Giáo Tổ, chư Thiêng Liêng giáng cơ dạy
Ðạo như kỳ ôn bài của giáo lý của hai thời kỳ trước
để chuẩn bị cho con người biết lo tu. Thánh giáo dạy trong
Cơ Phổ Ðộ từ năm 1926 có tính cách phổ thông đại chúng.
Sau 10 năm, khi chư Tiền Khai và chư đệ tử Ðức Chí Tôn
lãnh hội được giáo lý của ngài thì ngài mới giáng cơ
dạy Thiên Cơ huyền bí, dạy pháp, dạy cách tu luyện rất
kỹ trong quyển Ðại Thừa Chơn Giáo từ năm 1936 khi ngài
cấm không cho tại Tòa Thánh Tây Ninh lập đàn cơ nữa, duy
tại các Ðàn Chiếu Minh mới có cơ bút mà thôi và sau nầy
tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý hay các Bửu Tòa, Hội Thánh
Di Lạc ( Trước Lâm Thánh Ðức Thiền Ðiện ở Vĩng Long)
mới có lập Ðàn cơ mà thôi.
Là con người, trừ những người vô
thần, còn nếu ai mà tin Trời Phật, tin rằng mình do Cha Trời
tạo ra thì luôn có ước muốn trở về gặp Cha như những
người bình thường có lòng hiếu thảo cới cha mẹ. Muốn
về gặp cha phải làm sao? Ði xe, đi tàu, đi bộ dù cho xa cũng
rán. Còn làm sao bay hay thăng thiên hay đi về cõi trên hay Niết
bàn hay Thiên đàng được? Không ai muốn xuống Ðịa ngục
mà chỉ muốn về Thiên Ðàng thôi. Người ta tự hỏi và hỏi
bất cứ ai trả lời được.
Nhiều vị
kể cả người ngoại quốc hỏi tại sao bửu pháp không phổ
biến rộng rãi cho mọi người tu và không được tiết lộ,
không được chỉ cách thiền
, không được đưa Thánh giáo Chiếu Minh cho ai xem, mặc dù
Ðức Thượng Ðế đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp tuyển là
ai chay lạt 10 ngày đổ lên thì được truyền bửu pháp và
ngài có dạy vị Ðầu Sư khả tu, truyền Pháp, thuyết Ðạo
(TNHT, trg 26) . Tại sao chư chức
sắc tại Toà Thánh Tây Ninh không dạy cho chư tín hữu Ðạo
Cao Ðài cách tu thiền, mặc dù trong Tân luật có ghi là có
Thánh tịnh để làm nơi cho những ai muốn học và hành bửu
pháp, nên có một số vị khác học pháp thiền ở các
Tôn giáo khác? Có lẽ học thiền dù ăn chay 10 ngày đổ
lên hay ăn chay trường thì dễ mà khó ở chỗ là tu thiền
thì không làm chánh trị ( vì các Ðàn Chiếu Minh có ghi 10
Ðiều khuyên là không tham gia vaò việc quốc chánh còn đất
nước Việt nam vào những năm khai Ðạo gặp cảnh kjó khăn
là đất nước bị Pháp đô hộ, lòng dân thì ai cũng yêu
nước, tham gia kháng chiến chống thực dân mà cả chức
sắc cũng lo việc nước nên không lo việc thiền định được
và bây giờ người ta mới hiểu tại sao Ðức Ngô Minh Chiêu
từ chối nhận chức Giáo Tông vì ngài không muốn dính vào
chính trị bởi „Ðạo và chính trị không buổi nào liên
hiệp cùng nhau“ như lời Ðức Cao Ðài Thượng Ðế dạy
trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển 1, 1972, TTTN trang 45 và ngài
không trở về Tòa Thánh Tây Ninh vì ngài chưa hành bửu pháp
cho hoàn tất mà Ðức Chí Tôn đã trao mà nếu chung lo với
chư vị tại Tổ Ðình Ðại Ðạo Tam Ký Phổ Ðộ trong khi
đất nước Việt nam thời đó bi thực dân Pháp tìm các chia
rẻ và diệt trừ Ðạo thì phần Vô Vi chư tròn, vã lại ngài
cũng biết rằng Ðức Chí Tôn đã thử ngài, nên ngài phải
lo cho phần vô vi xong và khi ngài đắc quả vị Ðại Tiên
hay đắc Phật tại thế thì nhiệm vụ trong cơ Tuyển Chọn
của ngài mới tròn, nên ngài mở Tổ Ðình Chiếu MinhTam
Thanh Vô Vi tại Quận Cái Răng Cần Thơ để sau nầy chư vị
tiếp nối chỉ kiểu hành thiền cho chư vị nào muốn xin Thầy
Thượng Ðế thọ pháp.
Ðức Thượng
Ðế đã dạy là nếu Ðạo khai trễ một ngày thì một ngày
chúng sinh phải chịu một ngày đau khổ, nên việc phổ thông
giáo lý rất gấp rút và cần thiết. Tuy nhiên nhân laọi có
nhiều ngôn ngữ quá, đức tin loài người ở khác lục địa
khác thì quá nhiều khác biệt, từ cố chấp đến cuồng tín
nên chỉ có Ông Trời mới lo nổi mà thôi. Bửu pháp
của Ðức Thượng Ðế hiện chỉ truyền được một ít người
Việt Nam thôi như trước đây những vị đã qui liễu ( thoát
xác hay chết theo danh tư bình thường) đã đắc Tiên vị
trong danh sách hơn 200 vị và chư vị hành giả hiện sống
tại các Ðàn ở Việt Nam, ở Hoa Kỳ, Canada, ở Ðức quốc....
có vài người mà thôi. Hiểu về phổ thông thì khó mà hiểu
về Vô Vi lại càng kgó hơn. Làm
sao cho người ở vùng Á rạp hiểu nổi Ðạo Cao Ðài và họ
không chấp nhận danh từ nào khác ngoài chữ Á rạp và tên
của Ðấng Sáng Tạo Vũ Trụ là Ðấng Allah mà thôi? Làm sao
cho những người Nhân Chứng Giê-hô-va hiểu được Ðạo mới
của Ông Cha Trời mà theo họ chỉ có danh từ Giê-hô-va hay
JHWH thì mới gọi tên Ðức Chúa Trời được, còn chữ
tiếng Việt
"CAO ÐÀI" thì họ chưa hiểu
. Khi nói về các Ðạo hay Tôn Giáo mới
thì họ bài bác cho rằng chỉ có Kinh Thánh mới là chân lý,
những gì mới toàn là Dämon hay ma quỉ. Vì thế Ðức Cao Ðài
Thượng Ðế cũng đã nói rằng Ðạo không phải là món hành
bán rao giữa chợ nài ép ai thì nài. Ðức Ngô Minh Chiêu hay
Cao Ðài Tiên Ông đồng nhất thể cũng đã nói: Ðạo như
cây cải. Con dê tìm cây cải chớ cây cải không bao giờ tìm
con dê. Hiện nay nhân loại khắp nơi nhất là từ Tây phương
và Mỹ Châu tìm vê phương Ðông để học huyền môn học,
các khoa học gia hay các bác sĩ y khoa tìm học Kinh Dịch và
phương pháp trị liệu theo châm cứu hoặc tìm học thiền
(Zen) ở Nhật hoặc tìm hiểu và học Yoga ở Ấn độ, nhưng
đối với bửu pháp của Ðức Cao Ðài Thượng Ðế thì không
được phép phổ biến hay viết ra hay in thành sách vì Ðức
Chí Tôn ngại rằng bửu pháp của ngài sẽ bị thất truyền
như hai thời kỳ trước mà Ðạo Cao Ðài sẽ tồn tại trong
700.000 năm nên bửu pháp là mật pháp. Ðức Ngô Minh Chiêu
cũng đã nói Bửu pháp được truyền trong thời gian qua 3 thời
kỳ: 500 năm đầu thuộc Thiên hoàng, ai tu thì đắc, 500 năm
sau thuộc Ðịa hoàng, tu 10 người đắc 7 người, đến thời
Nhơn hoàng tu nhiều mà không đắc bao nhiêu. Vì Ðạo vô vi
và Sư vô vi nên chỉ có những Ðàn Chiếu Minh mới có Ðàn
cơ để chính Ðức Cao Ðài Tiên Ông chỉ từng chi tiết, nhắc
nhở từ việc nhỏ đến việc lớn, cho biết tu luyện sẽ
bi khảo đảo do nợ tiền khiên mà ai muốn tu cầu giải thoát
là phải chịu trả nợ tiền khiên. Nợ trả xong thì mới
thong dong về cõi Niết bàn được, còn thiếu nợ thì chủ
nợ đòi níu kéo lại thì làm sao giải thoát cho được?
Do đó tại Cần thơ có vị tu theo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi
hoặc bị giết, bị thuốc độc chết. Khi giáng cơ về nói
ra thì hành giả còn số
ng mới hiểu tại sao khi tu mà bị nạn ghê gớm đến thế,
chẳng qua kiếp trước có cả ngàn năm hay lúc còn ở Châu
Atlantid còn nợ mà vì trả góp nên chưa trả xong và trả một
lúc cái nghiệp nặng là phải chịu như thế.
Nhân loại
hiện sống có cả 6 tỉ người có hai hạng người:
1) Những
người từ các loài thăng hoa lên làm người qua hằng triệu
kiếp cũng như những người bị Âm quang nặng nề được
kỳ ân xá nầy Ðức Thượng
Ðế cho thả ra lên đoái công chuộc tội thường mang tính
tình cũ còn sót lại như hận thù, nóng nảy, sân si, vô minh...hạng
người nầy gọi là Hoá Căn;
2) Hạng
người thứ hai là chư vị tiến hóa cao đã về được cõi
trên có nhiệm vụ hay đã tình nguyện xuống thế trở lại
để giúp các anh em còn đang tiến chậm hơn, chưa có cơ
duyên ngộ Ðạo hay chưa ngộ pháp để tu luyện hầu có Nhị
Xác Thân nhờ đó linh hồn mới nương theo trở về cựu vị
trên Bạch Ngọc Kinh hay phản bổn hoàn nguyên hiệp nhứt
cùng Ðức Chí Tôn Thượng Ðế được
. Tổng số chư vị nầy xuống thế là 96 ức nguyên nhân(9
triệu 600.000). Ðã trở
về được 4 ức nguyên nhân, còn 92 ức nguyên nhân (9.200.000)
còn kẹt lại cõi trần vì mê danh, lợi, tài hay vì mê trần
nên quên ngôi xưa vị cũ. Cảng sống giàu sang phú quí, giàu
có sang trọng hay có khi làm cả Vua, chúa, tổng thống... tình,
tiền, quyền... đầy đủ, ăn cao lương, mỹ vị... thì không
nghĩ rằng mình trước kia là Tiên vị bên trên. Trong thời
kỳ Phổ Ðộ lần thứ
ba, những vị nầy mới đọc và hiểu Thánh giáo, biết nhớ
lại căn cội nên lo học Ðạo mầu và gấp rút lo tu luyện
để trở về quê hương xưa trên Bạch Ngọc Kinh, nếu chư
vị nầy không tu kịp thì e
phải luân hồi nữa biết đâu không có cuộc đời sung sướng
như hiện tại và duy chỉ có một đời chớ không trường
tồn như khi trước ở trên cõi Niết Bàn.
92 ức nguyên
nhân hay linh hồn là nguyên căn không riêng vì dân tộc Việt
Nam mà chung cho nhân loại đủ mọi dân tộc, vì ở các nước
Tây phương cũng có những vị hiền lương, bác ái, thích học
về huyền bí học và có ước vọng tìm học bửu pháp hay
chánh pháp để hành mà
chưa tìm ra. Có những vị như các giáo sư thuộc hai Ðại
học nổi tiếng là Cambridge và Oxford bên Anh quốc đã tìm
về phương Ðông để học Ðạo mầu, từ bỏ chức vị cao
quí, lương bổng cao, danh vọng cao để sống đơn giản trong
thiền viện ở vùng Hy Mã Lạp Sơn hay ở Ấn độ ( Xin quí
vị xem cuốn Ðường về phương Ðông của Tiến sĩ Paul Printon
sẽ biết rõ hơn).
Hiện nay
những người từ Tây phương đang tìm về phương Ðông để
học Ðạo mầu, nhưng chưa có vị nào có cơ duyên tìm ra chánh
pháp hay bửu pháp của Ðức Chí Tôn Thượng Ðế g
ặo để thọ ph áp ma
hành vì chỉ có ở Việt Nam mới có những Ðàn Chiếu Minh
Tam Thanh Vô Vi mà thôi và cũng là điề
u may mắn cho chư vị hành giả người Việt Nam ly hương sống
ở Mỹ đã lập được Ðàn Chiếu Minh rồi. Ở Canada và ở
Ðức cũng có một số vị là đệ tử của Ðức Chí Tôn
Cao Ðài Tiên Ông rồi, nhưng vì Ðạo là quí, không phải là
món hàng bán rao giữa chợ cũng như Ơn Trên không cho phép
viết ra, viết thành sách hay dễ dãi truyền ra cho những người
chưa được phép của Ðức Cao Ðài khi chưa gõ cửa Cao Ðài.
Hiện nay
Ơn Trên cũng dễ dãi và vì là cơ tận độ, không được
dấu diếm nên tuỳ duyên hoá độ khi ai chưa hành nổi điều
kiện khó khăn thì cũng có thể hành từ dễ đến khó, hành
từ sơ cơ đến dự bị và từ dự bị đến hành tâm pháp
theo Tam Thừa Cửu Phẩm. Quí vị nào muốn thăng hoa thì
có thể về Việt Nam, đến CQPTGLÐÐ hỏi, sẽ tìm học được
Cao Ðài Tân Pháp, còn quí vị nào muốn cầu tu giải thoát
nội kiếp nầy thì đến một trong những Ðàn CMTTVV hỏi,
sẽ được chỉ dẫn tường tận.
Vì hiện
nay là thời Mạt Pháp nên luôn luôn có những vụ đổi đời
hay chuyển thế ( chớ không phải Tận Thế như Kinh Thánh đã
tiên tri trong quyển Kinh chót của Kinh Thánh là Offenbarung).
Cuộc đổi đời hay là cuộc sàng sảy hay bài khảo thí để
chọn người hiền hay để vớt những chơn linh được tha
tội lỗi khi biết ăn năn và biết đoái công chuộc tội
nên Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy còn gọi là Kỳ Ân Xá lần thứ
ba. ( The Third Universal Amnesty).
Vì người
tìm Ðạo chớ Ðạo không tìm người cũng như Ðức Chí Tôn
là Ðấng Toàn Năng Toàn Thiện mà ngài không thể bồng ẵm
con cái ngài trờ về cùng ngài vì ngài đã cho con cái ngài
cái quyền tự do ý chí, tự do lựa chọn con đường tiến
hóa hay thoái hóa hay luân hồi đi vòng vòng cho mình nên
ai gõ cửa Cao Ðài thì Ðức Cao Ðài s34 mở cửa ( Gõ cửa
là đi vô hay Nhập môn).
Những ai
gõ cửa Cao Ðài thì ngài mới mở. Gõ cửa có nghĩa là muốn
vào nhà Ðại Ðạo l à phải thề nặng.
Hai thời kỳ trước vì có nhiều Giáo Tổ tùy duyên, tùy vùng,
tùy chủng tộc, tùy địa phương mà hoá độ chúng sinh. Về
sau có thêm nhiều Tôn giáo và Chi Phái mới nên mới có xảy
ra Thánh chiến vì tín ngưỡng khác nhau. Trong tương lai chỉ
một Ðạo, một THẦY Thượng Ðế, một Pháp, một Kinh, một
đức tin, một quyết định không bao giờ thay đổi nên điều
kiện gõ cửa là phải thề rất nặng để các tân tín đồ
hay tân đệ tử của Ðấng Cha Trời đến mục đích cuối
cùng là Ðại Ðạo. Các Tôn giáo không phải là chân lý, mà
chỉ là những phương tiện tìm chân lý để con người từ
đó tìm ra cái nhất lý hay chân lý bất biến hay Tam Giáo từ
phương Ðông qui nguyên về chánh Ðạo (Một nhà Tâm
lý học Thụy sĩ là C.C. Jung đã giải thích về Ba Vua hay ba
ngôi sao hiện ra khi Chúa ra đời, nói rằng Ba Báu hay ánh sáng
chân lý đi từ phương Ðông qua phương Tây và ai là người
ở xứ của Hoàng Hôn = Abendland muốn tìm minh triết phải
đi về phương Ðông).
Hiện nay vì có quá nhiều Tôn giáo nên
mới xảy ra Thánh chiến. Muốn tìm chân lý thì người ta phải
qui về giáo lý nguyên thủy như chư Giáo Tổ đã dạy như
lúc ban đầu hay Tam Giáo ở phương Ðông phải qui nguyên lại
một và Ngũ Chi trên thế giới hiệp nhất lại như những
lớp học trong ngôi trường chung là học và hành theo chánh
tín. Tôn giáo như những cửa nhiều màu, ai thích màu mào thì
vào cửa đó (ngoại giáo công truyền) , nhưng khi vào trong
rồi (nội giáo bí truyền) thì sẽ nhìn trở ra những cửa
ngõ thì thấy cửa nào cũng có hai cửa nhỏ giống nhau y hệt
( Exotérique vá Ésotérique) nhưng đó chỉ là những bước đầu
khi bước vô cửa Ðại Ðạo. Những cửa ngoài còn thiếu
chút đỉnh vì sự thất truyền như đã trình bày bên trên.
Còn bên trong Ðại Ðạo là chánh pháp hay bửu pháp chính do
Ðức cao Ðài mới dạy mà vị nào khi thọ pháp và hành pháp
đúng y nguyên bổn thì chắc chắn sẽ đắc Ðạo và niềm
tin nầy thật chắc chắn hơn nữa khi Ðức Ngô Minh Chiêu,
vị đệ từ đầu tiên của Ðức Chí Tôn đã hành nội trong
một kiếp và đã đắc quả như sự thật đã chứng minh và
lịch sử đã ghi nhận
(Xin quí
vị xem cuốn Cuộc đời hành Ðạo của Ðức Ngô Minh Chiêu
hay quyển Lịch sử Ðạo Cao Ðài Phần Phổ Ðộ của Tác
giả Ðồng Tân sẽ rõ hơn).
Ðạo THẦY
độc nhất vô nhị và THẦY dạy rất đơn giản là một pháp,
một Kinh, một đức tin (Nhứt pháp, nhứt kinh, nhứt đức).
Ai tin và
tìm thì sễ gặp. Ai gõ cửa thì cửa sẽ
được mở. Ai quyết chí thì sẽ
đạt được mục đích ( Xin quí vị xem Trang Con đường
giải thoát khỏi luân hồi sanh tử để biết địa chỉ các
Ðàn mà những nơi đó có cơ bút, có lễ và sẽ biết điều
kiện thọ pháp).
Mong rằng
chư vị nào đọc bài nầy thì suy nghĩ và chọn cho mình một
giải pháp cuối cùng cho tương lai của linh hồn. Nếu ai cho
rằng chết là hết hay tin rằng cát bụi trở về cùng cát
bụi trong Cựu ước (chỉ có ý nghĩa về Thân Tứ Ðại mà
thôi) và không tin rằng linh hồn trường tồn thì kiếp sau
cũng sẽ biết mà thôi, nhưng quá trễ tràng khi những người
đi trước sẽ bỏ xa mình quá trên đường phản bổn hoàn
nguyên. Hy vọng rằng những người vô thần sẽ biết được
câu tả lời: Con người từ đâu đến đây? Sống để làm
gì? Thác rồi đi về đâu? Nếu v ị nào tự
trả lời đưọc thì sẽ tiến vào con đường hữu thần và
có duyên may cho kiếp nầy vậy.